Giới thiệu: Cận thị được công nhận là một bệnh mắt tiến triển. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá tần suất và các yếu tố liên quan đến sự ngắn hóa chiều trục mắt (AL) có ý nghĩa lâm sàng ở trẻ em cận thị sau liệu pháp ánh sáng đỏ mức thấp lặp lại (RLRL).
Phương pháp: Đã xem xét dữ liệu lâm sàng thu thập từ trẻ em cận thị tuổi từ 3–17 tuổi, những người đã nhận liệu pháp RLRL bằng thiết bị ánh sáng bàn sử dụng tại nhà phát ra ánh sáng bước sóđ 650 nm trong ít nhất 1 năm. Dữ liệu lâm sàng bao gồm chiều trục mắt (AL), tương đương cầu khúc (SER) và thị lực đo tại thời điểm ban đầu và theo dõi. Các kết quả chính là tần suất ngắn hóa AL ≥ 0,05 mm, ≥ 0,10 mm và ≥ 0,20 mm mỗi năm, cùng các yếu tố liên quan đến sự ngắn hóa AL hàng năm.
Kết quả: Tổng cộng 434 trẻ em cận thị có dữ liệu theo dõi ít nhất 12 tháng được đưa vào nghiên cứu. Tuổi trung bình của người tham gia là 9,7 (±2,6) tuổi với tương đương cầu khúc SER là -3,74 (±2,60) điốp. Có 115 (26,50%), 76 (17,51%) và 20 (4,61%) trẻ có ngắn hóa AL tương ứng với ngưỡng 0,05 mm/năm, 0,10 mm/năm và 0,20 mm/năm. Trong mô hình đa biến, ngắn hóa AL có liên quan đáng kể đến tuổi ban đầu cao hơn, giới nữ, chiều trục mắt ban đầu dài hơn hoặc tương đương cầu khúc lớn hơn (tất cả P < 0,05). Ở các mắt có ngắn hóa AL, độ chênh lệch AL trung bình (độ lệch chuẩn, SD) là -0,142 (±0,094) mm/năm. Sự ngắn hóa AL lớn hơn được quan sát ở trẻ nhỏ tuổi hơn và có chiều trục mắt ban đầu dài hơn
(tất cả P < 0,05).
Kết luận: Hơn một phần tư trẻ em có ngắn hóa AL ≥ 0,05 mm sau liệu pháp RLRL, và sự thay đổi AL trung bình tổng thể là -0,142 mm/năm. Các nghiên cứu tiếp theo cần làm rõ cơ chế dẫn đến ngắn hóa AL.
GIỚI THIỆU
Cận thị đặc trưng bởi sự kéo dài trục mắt tiến triển và mất thị lực xa. Ước tính đến năm 2050, cận thị sẽ ảnh hưởng đến một nửa dân số thế giới, trong đó 40% được dự đoán là cận thị cao [1, 2]. Sự kéo dài chiều trục mắt (AL) liên quan đến những thay đổi cấu trúc và chức năng ở mắt, làm tăng nguy cơ các tình trạng đe dọa thị lực như xuất huyết vùng điểm vàng, bong võng mạc, đục thủy tinh thể và tăng nhãn áp [3]. Do đó, kiểm soát AL là nguyên tắc cơ bản trong điều trị cận thị và ngăn ngừa mất thị lực [4, 5].
Ở khỉ đực sơ sinh, người ta quan sát thấy hình dạng mắt có thể phục hồi một phần từ cận thị gây ra thực nghiệm sau khi loại bỏ tác nhân kích thích cận thị [6–10]. Sau khi loại bỏ kích thích thiếu dạng và tiêu cự viễn thị, sự kéo dài buồng thủy tinh thể sẽ chậm lại, dẫn đến AL tương đương với mắt đối bên [7]. Điều này được xác nhận bởi một phân tích tổng hợp, cho thấy sự ngắn hóa mắt cũng xảy ra ở linh trưởng không phải người sau tiêu cự cận thị, chủ yếu thông qua điều chỉnh độ sâu buồng thủy tinh thể [11]. Mắt của chuột chồn cây có tỷ lệ phục hồi AL cao hơn so với các loài khác khi đối mặt với tiêu cự cận thị [11–18]. Điều này làm giảm mức độ cận thị bằng cách tăng tương đương cầu khúc cận, do đó giảm nguy cơ các biến chứng đe dọa thị lực.
Ở người, sự xuất hiện ngắn hóa AL sau các liệu pháp điều trị cận thị rất hiếm khi được quan sát [19, 20]. Liệu pháp ánh sáng đỏ mức thấp lặp lại (RLRL) đã nổi lên như một phương pháp tiếp cận sáng tạo và tiềm năng trong kiểm soát tiến triển cận thị [21]. Gần đây chúng tôi đã báo cáo hiệu quả và độ an toàn của RLRL trong kiểm soát AL ở trẻ em cận thị Trung Quốc trong một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) đa trung tâm, trong đó tiếp xúc với RLRL hai lần mỗi ngày làm giảm rõ rệt tiến triển cận thị và kéo dài AL trong 1 năm [22]. Một điều bất ngờ là một tỷ lệ trẻ em thể hiện ngắn hóa AL sau liệu pháp RLRL, đây là phát hiện mới và quan trọng. Vì RCT được thực hiện theo tiêu chí chọn và loại nghiêm ngặt, tác động của RLRL đến ngắn hóa AL trong thực hành lâm sàng thực tế với sự đa dạng về đối tượng vẫn chưa được biết. Do đó, một phân tích hồi cứu của người sử dụng RLRL từ 11 bệnh viện ở sáu tỉnh Trung Quốc đã được tiến hành, với mục đích điều tra tần suất và các yếu tố liên quan đến ngắn hóa AL, cũng như các yếu tố liên quan trong môi trường lâm sàng.