Thực đơn
2020-05-13

Hiệu quả bền vững của điều trị bằng ánh sáng đỏ trong kiểm soát cận thị: Nghiên cứu theo dõi 2 năm sau thử nghiệm

Qiu Kaikai | Bệnh viện Mắt Ninh Ba

Chi Tiết Nghiên Cứu | NCT06232161 | Hiệu Quả Bền Vững Của Liệu Pháp Ánh Sáng Đỏ Trong Kiểm Soát Cận Thị: Nghiên Cứu Theo Dõi 2 Năm Sau Thử Nghiệm | ClinicalTrials.gov

Tổng Quan Nghiên Cứu

Tóm Tắt Ngắn Gọn

Đánh giá hiệu quả và sự an toàn lâu dài của liệu pháp ánh sáng đỏ trong kiểm soát cận thị trong 2 năm, cũng như hiện tượng hồi phục tiềm ẩn sau khi ngừng điều trị.

Nghiên cứu tuyển các trẻ em cận thị người Trung Quốc đã hoàn thành thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên 1 năm trong nghiên cứu trước đó. Trẻ em tiếp tục hoặc bắt đầu sử dụng liệu pháp ánh sáng đỏ hàng ngày được định nghĩa là nhóm RL, trong khi những người ngừng sử dụng ánh sáng đỏ và chuyển sang kính đơn thị (SVS) cũng như những người tiếp tục đeo kính đơn thị trong năm thứ hai đều được xem là nhóm SVS. Liệu pháp ánh sáng đỏ được cung cấp bằng thiết bị đèn bàn tại nhà phát ra ánh sáng đỏ 650 nm, sử dụng 3 phút mỗi lần, hai lần mỗi ngày. Sự thay đổi chiều dài trục mắt (AL) và khúc xạ tương đương cầu có phong cận (SER) sẽ được đo và so sánh, cùng với các tác dụng phụ bao gồm hiện tượng hồi phục.

Liệu pháp ánh sáng đỏ gần đây đã xuất hiện như một phương pháp điều trị kiểm soát cận thị mới. Thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên (RCT) 12 tháng do nhóm nghiên cứu thực hiện được xem là một trong những nghiên cứu sớm đánh giá điều trị trẻ cận thị bằng ánh sáng đỏ. Thử nghiệm cho thấy liệu pháp PBM hiệu quả trong kiểm soát cận thị, giảm sự kéo dài trục mắt và tiến triển khúc xạ tương đương cầu (SER) lần lượt 103% và 127% so với kính đơn thị (SVS) trong 12 tháng. Hiệu quả tiềm năng của liệu pháp ánh sáng đỏ đã được xác nhận thêm trong các nghiên cứu khác. Ngoài ra, mức độ chấp nhận sử dụng tốt và không thấy tổn thương chức năng, cấu trúc không phục hồi được ghi nhận.

Cận thị thường tiến triển suốt thời thơ ấu, do đó thời gian nghiên cứu 1 năm không đủ để áp dụng rộng rãi liệu pháp ánh sáng đỏ như chiến lược điều trị kiểm soát cận thị. Sự bền vững của hiệu quả điều trị, hiện tượng hồi phục khi ngừng điều trị, cũng như rủi ro tiềm ẩn và tác dụng phụ ở trẻ em cận thị với liệu pháp PBM dài hạn hơn vẫn cần được làm rõ đầy đủ.

Do đó, mục tiêu của nghiên cứu theo dõi sau thử nghiệm này là mời người tham gia quay lại khám sau 24 tháng và điều tra hiệu quả, an toàn lâu dài của việc tiếp tục liệu pháp ánh sáng đỏ cũng như hiện tượng hồi phục tiềm ẩn sau khi ngừng điều trị bằng ánh sáng đỏ.

Mô Tả Chi Tiết
Các can thiệp và lần thăm khám Tất cả kính mắt được làm kính đơn tiêu cự đầy đủ cho mỗi đối tượng như can thiệp đầu tiên trong suốt quá trình cho cả hai nhóm. Liệu pháp PBM được thực hiện bằng laser cường độ thấp (LD-A, Jilin LD Optoelectronics Technology, Jilin, Trung Quốc) với mức bức xạ 0,35 ± 0,02 mW/cm2, bước sót 650 nm ± 10 nm, độ chiếu sáng trung bình khoảng 400 lux trong 12 tháng đầu. Trong 12 tháng thứ hai, các nhóm không ngẫu nhiên tiếp tục dựa trên nguyện vọng sử dụng thiết bị từ cả hai nhóm. Sau khi quyết định, việc sử dụng sẽ được theo dõi thêm 12 tháng để theo dõi sự thay đổi chiều dài trục mắt cũng như thay đổi lỗi khúc xạ. Tất cả các tác dụng phụ và bất kỳ tổn thương nào đều được khuyến khích báo cáo trong quá trình nghiên cứu 12 tháng tiếp theo.